Qúy khách muốn quảng bá sản phẩm trên website này, xin vui lòng liên hệ theo số điện thoại 054.3938298 hoặc email cho chúng tôi theo địa chỉ kte@thuathienhue.gov.vn           |   |   |        
   
Sản phẩm
Dịch vụ
Doanh nghiệp
Nghề và Làng nghề
Tin tức - Sự kiện
Thông tin hữu ích
Thư viện Media
 
Giỏ hàng
Bạn chưa mua hàng !
 
 
 
 
Thống kê truy cập
Tổng số: 412337
Đang trực tuyến: 2
 
 
 
Nghề và Làng nghề
Làng gốm Phước Tích

Phước Phú Thuộc xã Phong Hòa huyện Phong Điền tỉnh Thừa Thiên Huế, do hai thôn Phước Tích và Phú Xuân nhập lại. Vì thế tên gọi “gốm Phước Phú” ngày nay chính là “Đôộc Phước Tích”.

Trong nhân dân miền Trung, “Đôộc” tiếng địa phương là gốm. Nhân dân ở đây vẫn tự hào: “Ba phủ chín tru (= con trâu) không bằng khu đôộc đôộc”. Tên xã Phong Hòa xưa là xã Phong Lâu do ở bên bờ sông Ô Lâu. Tiềm thức nhân dân và gia phả nhiều họ còn nhớ tổ tiên xưa vốn ở dọc sông Hoàng Giang thuộc Nghệ An, có nhà thờ họ còn biển: “Hoàng Giang như Ô Giang”. Tương truyền từ 600 năm trước, ông Hoàng Minh Hùng có công mở mang bờ cõi phía nam, được vua cho mang ba họ Hoàng, Phan, Đoàn ở Nghệ An vào đây lập nghiệp, rồi rủ luôn họ Lê, Lương, Nguyễn…dần dần được12 họ gắn bó với nhau như cùng một gốc: “Thập nhị tôn phái”. Từ ngày lập làng đến những năm 80 của thế kỉ XX đã được 22 đời. Người có công chiêu tập dân khai sơn phá thạch được tôn làm ông Khai Canh, tổ chung của cả làng, nay vẫn còn mộ và đền thờ. Bên cạnh ông Khai canh giúp dân “an cư” là ông dạy nghề gốm giúp dân “lạc nghiệp” được tôn làm Bổn Nghệ cùng thờ chung một đền, và vì thế đền thờ này được gọi là “Miếu Đôi”.

Sống tại một làng mới lập ở đồng đất xứ người, dân Phước Tích chẳng những gắn bó bằng những ông Tổ chung là Khai Canh và Bổn Nghệ, còn rất coi trọng lệ kính già, trọng xỉ và tộc phả. Cả 12 họ đều có tộc phả. Tộc phả họ Lê Trọng cho biết tổ họ vào đây lập nghiệp được 6 đời thì thành họ lớn, chia ra hai chi, rồi sau lại phát triển thành nhiều nhánh, tộc phả từ năm 1952 được dịch ra quốc ngữ và bổ sung, sao cho nhiều bản, giao cho mỗi nhánh một bản phòng khi có sự biến thì dễ tìm nhau. Bản tộc phả gốc do cụ tộc trưởng giữ, khi tộc trưởng mất thì người cao tuổi nhất trong họ (dù thuộc bất cứ nhánh nào) được tôn làm tộc trưởng mới, cả họ tổ chức kiệu lọng rước tộc phả gốc về nhà tộc trưởng mới. Con trai Phước Tích lấy vợ ở đâu cũng phải có lễ trình họ để họ thừa nhận dâu con, và sau đó khi họ có việc mới được cắt đặt công việc.

Làng ở bên bờ sông Ô Lâu, do đất hẹp nên nghĩa địa ở bên kia sông thuộc xã khác: “Sống ở Cồn Dương, chết chôn Hà Cát”. Quanh làng có hà (ngòi, hồ) bao bọc nên trở thành hòn đảo được thiên nhiên bảo vệ và xem như cái nghiêm mực khổng lồ, dìa là đường đi kèo làng dài như chiếc bút lông, lại có cồn. Trèn do đổ mảnh sành lâu dần nổi cao thành gò được coi là ấn dấu.

Làng có ba xóm dân, mỗi xóm có một cách sống riêng mà ca dao đã tổng kết:

                          Xóm hồi là xóm ăn chơi,
                         Cái nón cũng bán, cái tơi cũng cầm.
                         Xóm giữa nhiều bạc, nhiều chì,
                         Nhiều o con gái, nhiều dì hẳn hoi.
                         Xóm dưới cả chuông cả gai
                         Cả sành, cả sỏi, cả trai mục xì.

“Trai mục xì” là không ra gì, nhưng nay nhờ kinh doanh sành sỏi (làm gốm) trở nên giàu nhất làng.

Vị trí làng Phước Tích tiện cho việc thông thương bằng đường thủy đi khai thác nguyên liệu và chở sản phẩm gốm đi bán. Quanh làng không có đất sét và rất hiếm củi, nhưng theo các gia phả và ký ức người già thì suốt đời Minh Mạng đến đời Khải Định, hàng tháng làng phải dâng nộp triều đình Huế 30 chiếc “om ngự” làm nồi nấu cơm cho vua, ăn xong vứt bỏ. Do đó làng được đặc ân đi các nơi khai thác những gì cần cho nghề: Vào rừng ở truông Đôộc (nay thuộc Mỹ Xuyên cùng xã) lấy củi, sang cồn Gióng (thuộc xã Hải Chánh bên Triệu Hải – Quảng trị) lấy đất sét. Sau này cồn Gióng không cho lấy đất nữa thì sang Dương Khánh (xã Hải Dương cũng thuộc Triệu Hải) cách xa 30km đường đò. Đất ở Dương Khánh trên là đất sét, dưới là mầu nên địa phương muốn cho lấy để lợi cho canh tác, lại được Phước Tích trả sản lượng. Nay vẫn được dùng đất Dương Khánh. Sản phẩm truyền thống “đôộc Phước Tích” có lu (chum), ghè, thạp, thống, om, (niêu) bùng binh (ống tiết kiệm), tu huýt (còi) và ông táo nung chín thành sành, không có thấm nước. Những sản phẩm trên được chở bán từ Nghệ An vào đến Nam Bộ. Thời kỳ hưng thịnh, cả làng nhà nhà làm gốm, và các gia đình góp vốn xây lò, cùng thuê thuyền chở sản phẩm ra phá Tam Giang để đi các nơi xa. Họ mải miết, có khi chiều 30, sáng mồng 1 Tết vẫn đi bán hàng. Ca dao địa phương xác nhận hoạt động tất bật của các thuyền bán gốm Phước Tích:

                              Sáng chợ Cầu, chợ Kệ
                              Tối Thủ Lệ, Hạ Long
                              Hiếu trung chi bên anh, anh cũng bỏ.
                              Huống chi bên nường, nường ơi!

Thuyền lớn chỉ chạy bằng buồm, vài gia đình chở chung đi bán, chừng một tuần bán hết lại về làng lấy sản phẩm mới. Trước cách mạng Tháng Tám 1945, làng có chừng 10 khẩu lò mang tính gia đình đồng thời cũng có tính phe phường, do 5-7 gia đình chung lo chuốt gốm, lấy củi và đốt lò. Nay còn nền lò cũ, và còn giữ được cả bản vẻ bằng mực sạ ( mực Tàu) các lò Thanh và lò cóc. Trước kia xây các lò kiểu cổ phải dùng tre nứa đan khung lồng, dưới để tre củi cho khỏi sụt, trên đắp đất đỏ lấy ở làng Câu Nhi (xã Hải Chánh). Đất sét đỏ được nện kỹ, khô thì đốt lò và tự rắn lại như đá.

Trong kháng chiến chống pháp, Phước Tích gặp nhiều khó khăn, dân phải bỏ làng đi tản cư, nhưng đến đâu cũng mang theo nghề, họ lập lò nhỏ và gánh lập lò nhỏ và gánh bộ đi bán. Trong thời Mỹ - ngụy tạm chiếm, do sự lan tràn của đồ nhôm, những thợ có tay nghề khá vững là cán bộ đã ra Bắc tập kết, gốm phước Tích có nguy cơ tàn lụi. Mãi năm 1975 dân làng sum họp, lại phục hồi nghề cũ. Họ góp vốn dựng lại lò, nhưng không dùng lò cóc và lò Thanh kiểu cũ, học tập Hương Canh (Vĩnh Phúc) đắp lò rồng mở rộng dung tích và tận dụng nhiệt hợp với từng loại sản phẩm. Buổi đầu chưa thạo kỹ thuật mới, nhiều lần nung hỏng, sau mời thợ Hương Canh vào sửa cho vài chi tiết, nung tốt nhưng vẫn chỉ sản xuất được gốm không men. Từ năm 1985 học tập Biên Hòa đã có thêm lò mới, sản xuất được cả gốm có men. Do tình hình thời tiết, các lò gốm hoạt động mạnh trong các quý II và quý III, còn quý IV và quý I mưa gió nên ít đốt lò.

Cũng như nhiều làng gốm khác, bãi phế thải Cồn Trèn và khắp đường làng chỗ nào cũng đầy mảnh gốm, chứng tỏ một chiều sâu lịch sử.

Theo thuathienhue.gov.vn
In ấn |   Gửi cho bạn bè
Các làng nghề khác
 
Thêu Thuận Lộc
Làng nón Phú Cam
Làng làm nón bài thơ Tây Hồ
Liễn làng Chuồn
Làng hoa giấy Thanh Tiên
Bản đăng ký sản phẩm tham gia Hội thi sản phẩm quà tặng lưu niệm Huế 2016
Thể lệ Hội thi sản phẩm quà tặng lưu niệm Huế 2016
Hội thi sản phẩm quà tặng Huế 2016
Vật làng Sình: sân chơi văn hóa và thượng võ đầu xuân
Thông báo
 
Xem tất cả »